TRẢ LỜI NGAY: Có thời hạn chia tài sản sau ly hôn không?
Không. Pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định thời hiệu (thời hạn) khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng chưa được chia khi ly hôn. Dù đã ly hôn 5 năm, 10 năm hay 20 năm, người vợ hoặc người chồng vẫn có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, vì đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, không có thời hiệu không đồng nghĩa với việc chắc chắn đòi được tài sản. Trên thực tế, quyền của đương sự thường bị mất vì sáu lý do khác: bản án ly hôn đã tuyên về tài sản, hết thời hiệu yêu cầu thi hành án (05 năm), tài sản đã sang tên người thứ ba ngay tình, hết thời hiệu tuyên giao dịch vô hiệu (02 năm), hết thời hiệu khởi kiện hợp đồng (03 năm) hoặc một bên đã chết và vụ việc chuyển sang tranh chấp thừa kế. Các nội dung này được phân tích tại Mục III.

Trong quá trình hành nghề, chúng tôi tiếp nhận rất nhiều trường hợp tương tự: bản án, quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng trong quá trình giải quyết ly hôn các bên không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Nhiều năm sau, khi phát sinh tranh chấp, câu hỏi đầu tiên luôn là: “Giờ đã quá thời hạn chưa, có kiện được nữa không?”
Bài viết dưới đây của văn phòng luật sư ly hôn phân tích đầy đủ cơ sở pháp lý, nguyên tắc chia, thủ tục khởi kiện, án phí và các rủi ro thực tiễn liên quan đến thời hạn chia tài sản sau ly hôn, cập nhật theo quy định có hiệu lực đến tháng 10/2026.
I. Phân biệt “thời hạn” và “thời hiệu” chia tài sản sau ly hôn
Đây là nguyên nhân của phần lớn nhầm lẫn. Hai khái niệm này có hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau:
| Tiêu chí | Thời hiệu khởi kiện | Thời hạn tố tụng |
|---|---|---|
| Khái niệm | Thời hạn mà khi kết thúc, chủ thể mất quyền khởi kiện (Điều 149, Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015) | Khoảng thời gian Tòa án và đương sự phải thực hiện một hành vi tố tụng nhất định |
| Ví dụ | 03 năm với tranh chấp hợp đồng; 30 năm với yêu cầu chia di sản là bất động sản | 04 tháng chuẩn bị xét xử; 15 ngày kháng cáo; 05 năm yêu cầu thi hành án |
| Áp dụng với yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn | KHÔNG áp dụng | CÓ áp dụng – đây mới là các mốc dễ làm mất quyền |
Nói cách khác, khi anh/chị tìm kiếm “thời hạn chia tài sản sau ly hôn“, câu hỏi thực chất gồm hai phần: (i) đã quá hạn khởi kiện chưa? – câu trả lời là chưa, vì không có thời hiệu; và (ii) còn mốc thời gian nào đang chạy mà tôi có thể đánh mất? – câu trả lời là có, và khá nhiều.
II. Có thời hạn chia tài sản sau ly hôn không? Căn cứ pháp lý
1. Tài sản chung chưa chia vẫn thuộc sở hữu chung của hai người
Theo nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Do đó, nếu khi ly hôn các bên không yêu cầu chia tài sản thì Tòa án không giải quyết nội dung này: bản án, quyết định ly hôn chỉ chấm dứt quan hệ nhân thân, còn quan hệ tài sản vẫn còn nguyên và tài sản chung tiếp tục là tài sản thuộc sở hữu chung của hai người, dù họ không còn là vợ chồng. Tranh chấp phát sinh sau đó thuộc nhóm “chia tài sản sau khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hệ quả: mỗi người là một đồng chủ sở hữu. Quyền sở hữu không mất đi theo thời gian, nên yêu cầu phân chia khối tài sản đó là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu.
2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 – Không áp dụng thời hiệu khởi kiện
“Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
4. Trường hợp khác do luật quy định.”
Như vậy, yêu cầu chia tài sản chung chưa chia sau ly hôn rơi vào khoản 2 Điều 155; nếu tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất thì đồng thời thuộc khoản 3 Điều 155. Cả hai trường hợp đều không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện.
3. Tòa án không được tự ý áp dụng thời hiệu để bác đơn
Ngay cả khi một loại yêu cầu có thời hiệu, Tòa án cũng không được tự viện dẫn để đình chỉ vụ án:
Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
“Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.”
Đây là điểm cần lưu ý cho cả hai phía. Bên khởi kiện: đừng tự bỏ quyền vì nghĩ mình đã hết hạn. Bên bị kiện: nếu muốn viện dẫn thời hiệu (trong các quan hệ có thời hiệu), phải nêu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án – nêu ở cấp phúc thẩm là đã muộn.
4. Bảng tổng hợp: loại yêu cầu nào có thời hiệu, loại nào không
| Loại yêu cầu | Thời hiệu | Căn cứ |
|---|---|---|
| Chia tài sản chung của vợ chồng chưa được chia sau ly hôn | Không áp dụng | Khoản 2, khoản 3 Điều 155 BLDS 2015 |
| Tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung | Không áp dụng | Khoản 3 Điều 155 BLDS 2015 |
| Khởi kiện vì bên kia vi phạm văn bản thỏa thuận phân chia tài sản | 03 năm | Điều 429 BLDS 2015 |
| Yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu (do giả tạo, nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa…) | 02 năm | Khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 |
| Yêu cầu chia di sản khi một bên đã chết | 30 năm (bất động sản) 10 năm (động sản) | Khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 |
| Yêu cầu thi hành bản án đã chia tài sản | 05 năm | Khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 |
Ghi chú: BLDS 2015 là Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015.
III. Sáu trường hợp mất quyền dù không bị giới hạn thời hiệu
CẢNH BÁO: Trong thực tiễn, số vụ bị Tòa án trả lại đơn hoặc đình chỉ vì hết thời hiệu rất ít. Ngược lại, số vụ thất bại vì các lý do dưới đây lại rất nhiều. Anh/chị cần đối chiếu từng trường hợp trước khi quyết định khởi kiện.
1. Bản án, quyết định ly hôn đã giải quyết về tài sản
Đây là rào cản lớn nhất và cũng là điều bị bỏ sót nhiều nhất. Nếu trong bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã tuyên về tài sản – kể cả khi chỉ tuyên một câu “các bên không có tài sản chung” hoặc “các bên tự nguyện không yêu cầu giải quyết tài sản và cam kết không tranh chấp” – thì sự việc được xem là đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khi đó Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hoặc đình chỉ giải quyết vụ án nếu đã thụ lý. Muốn mở lại, bắt buộc phải đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm – và thủ tục này có thời hạn rất chặt:
| Thủ tục | Thời hạn kháng nghị | Căn cứ |
|---|---|---|
| Giám đốc thẩm | 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; được kéo dài thêm 02 năm nếu đương sự đã có đơn đề nghị và tiếp tục gửi đơn, hoặc bản án xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người thứ ba, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước | Điều 334 BLTTDS 2015 |
| Tái thẩm | 01 năm kể từ ngày người có quyền kháng nghị biết được tình tiết mới là căn cứ kháng nghị | Điều 355 BLTTDS 2015 |
Việc cần làm ngay: trích lục lại bản án, quyết định ly hôn và đọc kỹ phần quyết định. Chỉ khi bản án hoàn toàn không đề cập đến tài sản thì mới khởi kiện bằng vụ án độc lập.
2. Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án (05 năm)
Trường hợp bản án đã chia tài sản nhưng bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện, thì đây không phải việc khởi kiện lại mà là việc yêu cầu thi hành án. Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026), thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; với nghĩa vụ thi hành theo định kỳ thì tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Hết 05 năm mà không thuộc trường hợp được loại trừ (tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng – khoảng thời gian xảy ra các sự kiện này không tính vào thời hiệu), cơ quan thi hành án dân sự có quyền từ chối yêu cầu. Đây là mốc thời gian dễ mất quyền nhất trong toàn bộ quá trình.
3. Tài sản đã được chuyển nhượng cho người thứ ba ngay tình
Nếu người đứng tên trên giấy chứng nhận đã chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp tài sản cho người khác và người này được bảo vệ theo Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 (bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình), thì dù giao dịch bị tuyên vô hiệu, tài sản không bị thu hồi. Người bị thiệt hại chỉ còn quyền yêu cầu bên có lỗi hoàn trả phần giá trị và bồi thường thiệt hại.
Tài sản càng để lâu, khả năng này càng cao – đó là lý do thực chất khiến “để lâu là mất”, không phải vì thời hiệu.
4. Hết thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu (02 năm)
Muốn thu hồi tài sản đã bị chuyển nhượng, thường phải yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch đó vô hiệu. Theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong các trường hợp vi phạm về năng lực chủ thể, bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc không tuân thủ hình thức là 02 năm. Hết thời hạn này mà không có yêu cầu thì giao dịch có hiệu lực (khoản 2 Điều 132).
Riêng giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc do giả tạo thì không bị hạn chế về thời hiệu (khoản 3 Điều 132). Việc xác định đúng căn cứ vô hiệu vì vậy quyết định việc còn hay mất quyền.
5. Quan hệ tranh chấp bị xác định là tranh chấp hợp đồng (03 năm)
Nếu khi ly hôn hai bên đã lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản và nay một bên khởi kiện vì bên kia không thực hiện thỏa thuận, quan hệ tranh chấp có thể được xác định là tranh chấp về hợp đồng, áp dụng thời hiệu 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, tính từ ngày người có quyền biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Việc xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp ngay từ đơn khởi kiện – chia tài sản chung, tranh chấp quyền sử dụng đất, hay tranh chấp hợp đồng – do đó không phải vấn đề hình thức, mà trực tiếp quyết định có bị áp dụng thời hiệu hay không.
6. Một bên đã chết – vụ việc chuyển sang tranh chấp thừa kế
Khi một bên chết trước khi tài sản chung được chia, phần tài sản của người đó trở thành di sản. Tranh chấp lúc này là tranh chấp thừa kế và chịu thời hiệu theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015: 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Người tham gia tố tụng không còn là hai vợ chồng cũ mà bao gồm toàn bộ những người thừa kế của người đã chết.
IV. Nguyên tắc chia tài sản chung sau ly hôn
Vì tài sản chưa chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng, việc phân chia sau ly hôn vẫn áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, không áp dụng quy định chia tài sản thuộc sở hữu chung theo phần của Bộ luật Dân sự. Đây là nội dung thường bị áp dụng sai.
1. Xác định phạm vi tài sản chung
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Khoản 3: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Nguyên tắc suy đoán tài sản chung tại khoản 3 Điều 33 là lợi thế lớn cho bên khởi kiện: nghĩa vụ chứng minh tài sản riêng thuộc về bên nào khẳng định đó là tài sản riêng của mình. Xem thêm: Cách chứng minh tài sản riêng của vợ chồng.
2. Chia đôi, nhưng có tính đến bốn yếu tố
Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến bốn yếu tố. Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn cụ thể như sau:
| Yếu tố | Nội dung hướng dẫn |
|---|---|
| Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng | Xét tình trạng năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo thu nhập sau khi ly hôn. Bên gặp khó khăn hơn được chia phần tài sản nhiều hơn hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống. |
| Công sức đóng góp của vợ, chồng | Gồm đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động. Người ở nhà chăm lo gia đình, nuôi con được coi là có đóng góp tương đương với thu nhập của người đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn được chia nhiều hơn. |
| Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp | Bảo đảm bên đang trực tiếp sản xuất, kinh doanh, hành nghề được tiếp tục hoạt động để tạo thu nhập; bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia. Việc chia không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên. |
| Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng | Xét lỗi của bên vi phạm nghĩa vụ về nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn, như bạo lực gia đình, không chung thủy, phá tán tài sản, nhằm bảo vệ quyền lợi của vợ và con chưa thành niên. |
3. Thời điểm định giá tài sản – nội dung có lợi khi để lâu
Theo khoản 5 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, giá trị tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc – không phải giá tại thời điểm ly hôn. Với bất động sản đã tăng giá nhiều lần sau nhiều năm, đây là nội dung có ý nghĩa quyết định đối với giá trị thực nhận.
4. Một số trường hợp đặc thù
- Quyền sử dụng đất (Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014): đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc bên đó. Đất nông nghiệp trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản là tài sản chung thì chia theo thỏa thuận; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 59. Đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở và các loại đất khác chia theo Điều 59.
- Quyền lưu cư (Điều 63): nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; bên kia nếu có khó khăn về chỗ ở được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Tài sản chung đưa vào kinh doanh (Điều 64): bên đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
- Nhà ở là nơi ở duy nhất: theo khoản 6 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016, nếu không chia được bằng hiện vật, Tòa án có thể xem xét giao nhà cho bên trực tiếp nuôi con chưa thành niên, bên này thanh toán phần giá trị tương ứng cho bên kia nếu có yêu cầu.
Về nguyên tắc chia trong trường hợp một bên không hợp tác, tham khảo thêm: Chồng không chịu chia tài sản thì phải làm thế nào và Chia tài sản khi ly hôn đơn phương theo quy định.
V. Thủ tục khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn
1. Hồ sơ khởi kiện
- Đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn (theo Mẫu số 23-DS ban hành kèm Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao);
- Bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật (bản sao có chứng thực hoặc bản trích lục);
- Giấy tờ nhân thân: chứng minh nhân dân/thẻ căn cước, giấy tờ cư trú của nguyên đơn và bị đơn;
- Tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản là tài sản chung: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở; đăng ký xe; sổ tiết kiệm; hợp đồng mua bán, hóa đơn; giấy tờ chứng minh phần vốn góp, cổ phần; sao kê tài khoản;
- Tài liệu chứng minh công sức đóng góp (nếu yêu cầu chia không theo tỷ lệ 50/50);
- Văn bản thỏa thuận về tài sản (nếu có).
Không bắt buộc hòa giải tại UBND cấp xã. Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất thuộc nhóm “tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất”, nên thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất không phải là điều kiện khởi kiện. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với tranh chấp đất đai thông thường quy định tại Điều 235 Luật Đất đai năm 2024.
2. Thẩm quyền của Tòa án (cập nhật từ ngày 01/7/2025)
Tranh chấp “chia tài sản sau khi ly hôn” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ ngày 01/7/2025, mô hình tổ chức Tòa án đã thay đổi theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án:
| Nội dung | Quy định hiện hành |
|---|---|
| Thẩm quyền theo cấp | Tòa án nhân dân khu vực giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, bao gồm cả vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp ra nước ngoài (Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15). Trong Tòa án nhân dân khu vực, vụ việc do Tòa Gia đình và người chưa thành niên giải quyết (Điều 36). |
| Thẩm quyền theo lãnh thổ | Nguyên tắc chung: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Nếu đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền (điểm a, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). |
| Tòa án nhân dân cấp tỉnh | Giải quyết phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi lãnh thổ. |
LƯU Ý: Rất nhiều bài viết và biểu mẫu trên mạng vẫn ghi “Tòa án nhân dân quận/huyện” hoặc “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài”. Nộp đơn theo hướng dẫn cũ sẽ bị trả lại đơn vì không đúng thẩm quyền, làm mất thời gian và có thể bỏ lỡ các mốc tố tụng khác.
3. Thời hạn giải quyết
Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 04 tháng kể từ ngày thụ lý; vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn không quá 02 tháng (khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Thời hạn mở phiên tòa là 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trường hợp có lý do chính đáng thì không quá 02 tháng.
Trên thực tế, vụ án chia tài sản sau ly hôn thường kéo dài hơn do phải thẩm định, định giá tài sản, xác minh tại cơ quan đăng ký đất đai, ngân hàng, cơ quan đăng ký kinh doanh.
4. Án phí
Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn là tranh chấp có giá ngạch: án phí tính trên giá trị phần tài sản mà mỗi bên được chia. Mức án phí áp dụng theo Danh mục ban hành kèm Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Giá trị tài sản tranh chấp | Mức án phí sơ thẩm |
|---|---|
| Từ 6.000.000 đồng trở xuống | 300.000 đồng |
| Trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng | 5% giá trị tài sản tranh chấp |
| Trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng | 20.000.000 đồng + 4% của phần vượt quá 400.000.000 đồng |
| Trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng | 36.000.000 đồng + 3% của phần vượt quá 800.000.000 đồng |
| Trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng | 72.000.000 đồng + 2% của phần vượt quá 2.000.000.000 đồng |
| Trên 4.000.000.000 đồng | 112.000.000 đồng + 0,1% của phần vượt quá 4.000.000.000 đồng |
Án phí dân sự phúc thẩm đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng. Ngoài án phí, đương sự còn phải chịu chi phí định giá, thẩm định giá tài sản, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Tham khảo thêm: Ly hôn đơn phương mất bao nhiêu tiền.
VI. Chứng minh tài sản chung – mấu chốt thắng hay thua
Vì không bị giới hạn thời hiệu, yếu tố quyết định kết quả vụ án không phải “sớm hay muộn” mà là chứng cứ. Thực tiễn cho thấy ba nhóm công việc sau cần thực hiện trước khi nộp đơn:
1. Xác lập hiện trạng pháp lý của tài sản
- Yêu cầu cung cấp thông tin đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai để xác định chủ sử dụng hiện tại, lịch sử biến động, tình trạng thế chấp, ngăn chặn;
- Tra cứu thông tin doanh nghiệp tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để xác định phần vốn góp, cổ phần được hình thành trong thời kỳ hôn nhân;
- Thu thập giấy tờ đăng ký phương tiện, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng mua bán có giá trị lớn.
2. Vận dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung
Theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chỉ cần chứng minh tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân; nếu bên kia cho rằng đó là tài sản riêng thì họ phải chứng minh. Tài liệu cần có: giấy chứng nhận kết hôn, thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm ký hợp đồng mua bán, thời điểm thanh toán.
3. Ngăn chặn tẩu tán tài sản
Ngay khi khởi kiện hoặc cùng với việc khởi kiện, nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111 và Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, như: cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm theo Điều 136 của Bộ luật này.
Sau khi có bản án: trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (hoặc ngày bàn giao tài sản trong trường hợp thi hành án), người được chia quyền sử dụng đất phải đăng ký biến động đất đai theo Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Không đăng ký đúng hạn có thể bị xử phạt theo khoản 2 Điều 16 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP.
VII. Cảnh báo rủi ro từ thực tiễn hành nghề
- Bản án ly hôn có một câu về tài sản là đủ để “khóa cửa”. Nhiều quyết định công nhận thuận tình ly hôn ghi “các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản”. Tùy cách tuyên, phần này có thể bị xem là đã giải quyết. Cần đọc kỹ bản án trước khi khởi kiện, nếu cần phải đi theo hướng giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp. Khởi kiện “tranh chấp hợp đồng” thay vì “chia tài sản chung” có thể làm vụ việc bị áp dụng thời hiệu 03 năm. Ngược lại, khởi kiện “chia tài sản chung” trong khi hai bên đã có thỏa thuận hợp pháp đầy đủ cũng có thể bị bác.
- Chứng cứ mai một theo thời gian. Sổ tiết kiệm đã tất toán, sao kê ngân hàng chỉ lưu trong thời hạn nhất định, người làm chứng không còn liên lạc, bên kia đã sang tên tài sản cho người thân. Đây là lý do thực chất khiến “để lâu là khó đòi”.
- Giá trị tài sản tăng kéo án phí tăng. Do định giá theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm, bất động sản tăng giá nhiều lần làm án phí tăng theo. Cần dự toán chi phí trước khi khởi kiện.
- Nghĩa vụ chung với người thứ ba. Theo khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016, Tòa án phải xác định vợ chồng có nghĩa vụ tài sản với người thứ ba hay không. Khoản nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân có thể làm giảm đáng kể phần tài sản thực nhận.
- Một bên đã chết, một bên đã kết hôn mới. Thành phần người tham gia tố tụng thay đổi, vụ việc phức tạp hơn nhiều và có thể phải tách thành vụ án thừa kế riêng.
KẾT LUẬN THỰC TIỄN: Pháp luật không đặt ra thời hạn để yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn, nhưng thực tiễn thì có. Mỗi năm trôi qua, khả năng thu hồi tài sản giảm đi. Khi đã xác định còn tài sản chung chưa chia, nên tiến hành thu thập chứng cứ và khởi kiện càng sớm càng tốt.
VIII. Câu hỏi thường gặp về thời hạn chia tài sản sau ly hôn
Ly hôn đã 10 năm, 20 năm thì còn yêu cầu chia tài sản được không?
Bản án ly hôn ghi “các bên không có tài sản chung” thì có khởi kiện chia được không?
Tài sản được chia theo giá lúc ly hôn hay giá hiện tại?
Nhà, đất chỉ đứng tên một người thì có phải tài sản chung không?
Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết chia tài sản sau ly hôn?
Có phải hòa giải ở Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi khởi kiện không?
Bản án đã chia tài sản nhưng bên kia không giao, tôi phải làm gì?
Người ở nhà nội trợ, không có thu nhập thì được chia bao nhiêu?
IX. Luật sư tư vấn chia tài sản sau ly hôn tại TP.HCM
Vụ án chia tài sản chung sau ly hôn thường không thất bại vì hết thời hiệu, mà vì đánh giá sai hiệu lực của bản án ly hôn cũ, xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp và thiếu chứng cứ về nguồn gốc tài sản. Ba nội dung này cần được rà soát trước khi nộp đơn.
Phạm vi công việc chúng tôi thực hiện:
- Rà soát bản án, quyết định ly hôn để xác định còn quyền khởi kiện hay phải đi theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
- Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền;
- Thu thập, xác minh chứng cứ về tài sản chung; tra cứu biến động đất đai, phần vốn góp, tài khoản;
- Soạn đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án các cấp và trong giai đoạn thi hành án.
CÔNG TY LUẬT TNHH DUY MINH
Luật sư Bùi Khắc Long – Giám đốc
Trụ sở: Số 35, Đường Dương Văn An, Phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh
Hotline – Zalo: 0931 222 515
Email: lskhaclong@gmail.com
X. Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) – Điều 33, Điều 40, Điều 59, Điều 62, Điều 63, Điều 64.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) – Điều 132, Điều 133, Điều 149, Điều 150, Điều 155, Điều 429, Điều 623.
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016) – Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 111, Điều 114, Điều 136, Điều 184, Điều 192, Điều 203, Điều 334, Điều 355.
- Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025).
- Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05/12/2025 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) – Điều 34.
- Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01/8/2024) – Điều 133, Điều 235.
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (có hiệu lực từ ngày 01/3/2016) – Điều 7.
- Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (có hiệu lực từ ngày 01/7/2024).
- Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án – Điều 3.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự – Mẫu số 23-DS.
- Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai – Điều 16.
Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo chung, không thay thế ý kiến tư vấn cho một vụ việc cụ thể. Pháp luật có thể được sửa đổi, bổ sung; mỗi hồ sơ có tình tiết riêng. Đề nghị quý khách liên hệ luật sư để được tư vấn theo đúng tình trạng hồ sơ của mình.







