Án treo không phải một loại hình phạt. Đó là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện: người bị kết án vẫn mang án phạt tù, nhưng không phải vào trại, với điều kiện giữ đúng nghĩa vụ trong suốt thời gian thử thách. Bài viết này trình bày đủ năm điều kiện, sáu trường hợp bị loại trừ, cách tính thời gian thử thách, và hai văn bản vừa thay đổi trong năm 2025 và 2026 mà nhiều nơi còn ghi theo quy định cũ.
- Mức tù được tuyên phải không quá 3 năm. Trên 3 năm thì không xét án treo, dù các điều kiện khác đều đủ.
- Phải có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó ít nhất 1 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51, và không có tình tiết tăng nặng thuộc khoản 1 Điều 52.
- Thời gian thử thách bằng 2 lần mức hình phạt tù, không dưới 1 năm và không quá 5 năm.
- Có sáu nhóm trường hợp không được hưởng án treo, trong đó bốn nhóm có ngoại lệ.
- Cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần trở lên trong thời gian thử thách thì bị buộc chấp hành hình phạt tù.
- Từ 01/7/2025, thẩm quyền chuyển sang Tòa án nhân dân khu vực. Từ 01/7/2026, việc thi hành án treo theo Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15.
1. Án treo là gì

Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Ba điểm hay bị hiểu sai ngay từ đầu:
| Cách hiểu thường gặp | Thực tế |
|---|---|
| Án treo là một hình phạt nhẹ hơn tù | Án treo không phải hình phạt. Hình phạt vẫn là tù, chỉ được miễn chấp hành có điều kiện |
| Được án treo là coi như trắng án | Vẫn có án tích, vẫn ghi vào lý lịch tư pháp, và chỉ được xóa theo thời hạn luật định |
| Được án treo là xong việc | Phải chấp hành nghĩa vụ trong suốt thời gian thử thách, vi phạm thì vào trại chấp hành đủ mức án đã tuyên |
Căn cứ pháp lý
- Điều 65 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14. Luật số 86/2025/QH15 không sửa Điều 65.
- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP (hiệu lực 10/5/2022) và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 (hiệu lực 01/7/2025).
- Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC năm 2025 hợp nhất ba nghị quyết trên.
- Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15, Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ 01/7/2026. Việc thi hành án treo quy định tại Điều 80.
2. Năm điều kiện được hưởng án treo
Phải có đủ cả năm. Thiếu một điều kiện là không được xem xét.
- Mức án không quá 3 năm tù. Đây là mức Tòa án tuyên, không phải mức cao nhất của khung hình phạt. Một người bị truy tố theo khung có mức cao nhất 7 năm vẫn có thể được hưởng án treo, nếu mức án Tòa tuyên cuối cùng không quá 3 năm.
- Nhân thân tốt. Ngoài lần phạm tội này, người đó chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú và nơi làm việc.
- Có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó ít nhất 1 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, và không có tình tiết tăng nặng thuộc khoản 1 Điều 52. Cách tính cụ thể ở mục 3.
- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Nơi làm việc ổn định được hiểu là nơi làm việc có thời hạn từ 1 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù, và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Có tiền án, tiền sự không đương nhiên mất quyền được xem xét. Nghị quyết hướng dẫn nêu rõ ba trường hợp vẫn có thể được hưởng án treo nếu đủ các điều kiện khác:
- Người đã được xóa án tích, hoặc đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật — nếu tội mới là tội ít nghiêm trọng, hoặc người đó là đồng phạm có vai trò không đáng kể.
- Người mà tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật”, “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” đã được dùng làm tình tiết định tội trong chính vụ án này.
- Người có vụ án bị tách ra giải quyết ở các giai đoạn khác nhau.
3. Phép tính tình tiết giảm nhẹ
Đây là điều kiện bị tính sai nhiều nhất, vì nó là một phép tính có quy tắc chứ không phải cảm tính.
| Trường hợp | Yêu cầu |
|---|---|
| Không có tình tiết tăng nặng thuộc khoản 1 Điều 52 | Có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó ít nhất 1 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 |
| Có tình tiết tăng nặng thuộc khoản 1 Điều 52 | Số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng ít nhất 2 tình tiết, trong đó vẫn phải có ít nhất 1 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 |
Ví dụ 1. Có 2 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và tự nguyện bồi thường, không có tình tiết tăng nặng. Cả hai đều thuộc khoản 1 Điều 51. Đủ điều kiện.
Ví dụ 2. Có 3 tình tiết giảm nhẹ nhưng có 1 tình tiết tăng nặng là phạm tội có tổ chức. Số giảm nhẹ phải nhiều hơn tăng nặng ít nhất 2, tức là phải từ 3 trở lên. Có 3 tình tiết giảm nhẹ nên vừa đủ.
Ví dụ 3. Có 3 tình tiết giảm nhẹ nhưng có 2 tình tiết tăng nặng. Cần ít nhất 4 tình tiết giảm nhẹ. Chưa đủ.
Điểm cần phân biệt: khoản 1 Điều 51 là danh mục tình tiết giảm nhẹ được luật liệt kê sẵn; khoản 2 Điều 51 là những tình tiết khác do Tòa án xem xét và ghi rõ lý do trong bản án. Tình tiết thuộc khoản 2 vẫn được tính vào tổng số, nhưng không thay thế được yêu cầu phải có ít nhất 1 tình tiết thuộc khoản 1. Đây là chỗ nhiều hồ sơ bị thiếu.
4. Sáu trường hợp không được hưởng án treo
| Trường hợp | Ngoại lệ |
|---|---|
| Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy; ngoan cố chống đối; côn đồ; dùng thủ đoạn xảo quyệt; phạm tội có tính chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi; cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng | Không có |
| Người bỏ trốn và đã bị truy nã hoặc có yêu cầu truy nã | Trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử |
| Người đang hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách; hoặc đang hưởng án treo mà bị xét xử về tội đã thực hiện trước khi được hưởng án treo | Không có |
| Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội | Trừ: người dưới 18 tuổi; cả hai tội đều là tội ít nghiêm trọng; hoặc là người giúp sức trong đồng phạm với vai trò không đáng kể |
| Phạm tội 2 lần trở lên | Trừ: người dưới 18 tuổi; các lần phạm tội đều là tội ít nghiêm trọng; các lần đều là người giúp sức vai trò không đáng kể; hoặc các lần phạm tội đều do tự thú |
| Thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm | Không có |
Nghị quyết hướng dẫn yêu cầu Tòa án xem xét đặc biệt thận trọng và chặt chẽ đối với ba nhóm: người bỏ trốn đã ra đầu thú, người bị xét xử nhiều tội trong một lần, và người phạm tội từ 2 lần trở lên. Nghĩa là ngay cả khi rơi vào ngoại lệ, việc được chấp nhận cũng không đương nhiên.
Với người đã bị truy nã, ranh giới nằm ở thời điểm quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ra đầu thú trước mốc đó thì vẫn còn cơ hội được xem xét án treo. Sau mốc đó thì không. Đây là chi tiết về thời điểm, không phải về thái độ, nên không thể bù lại bằng việc thành khẩn sau này.
5. Thời gian thử thách tính thế nào
Quy tắc rất cụ thể, và đây là chỗ nhiều bài viết ghi sai:
- Thời gian thử thách bằng 2 lần mức hình phạt tù được tuyên.
- Nhưng không dưới 1 năm và không quá 5 năm.
| Mức tù được tuyên | 2 lần | Thời gian thử thách |
|---|---|---|
| 6 tháng | 1 năm | 1 năm |
| 9 tháng | 1 năm 6 tháng | 1 năm 6 tháng |
| 1 năm | 2 năm | 2 năm |
| 2 năm | 4 năm | 4 năm |
| 2 năm 6 tháng | 5 năm | 5 năm |
| 3 năm | 6 năm | 5 năm (chạm mức trần) |
Hai điểm về cách tính:
Thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ khi ấn định thời gian thử thách. Người đã bị tạm giam 4 tháng rồi được tuyên 1 năm tù cho hưởng án treo thì thời gian thử thách vẫn là 2 năm, tính trên mức án 1 năm chứ không phải trên phần còn lại. Nhưng nếu sau đó vi phạm và bị buộc chấp hành hình phạt tù thì thời gian đã tạm giam được trừ vào thời hạn phải chấp hành.
Mốc bắt đầu. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, và Tòa án cấp sơ thẩm lần sau vẫn cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm lần sau.
6. Nghĩa vụ trong thời gian thử thách
Người được hưởng án treo chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc của đơn vị quân đội, và phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Theo Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, công an cấp xã triệu tập người được hưởng án treo đến ký cam kết chấp hành. Người dưới 18 tuổi thì có người giám hộ cùng tham gia. Không có mặt hoặc không ký cam kết thì bị lập biên bản vi phạm.
- Có mặt theo giấy triệu tập và ký cam kết chấp hành.
- Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết, tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy nơi cư trú hoặc nơi làm việc.
- Xin phép khi đi khỏi nơi cư trú. Đây là nghĩa vụ bị vi phạm nhiều nhất trên thực tế.
- Báo cáo, tự nhận xét về việc chấp hành theo định kỳ.
- Thông báo khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, để cơ quan thi hành án chuyển hồ sơ theo đúng thủ tục.
Khi kết thúc thời gian thử thách, trước 3 ngày cơ quan giám sát bàn giao lại hồ sơ, và vào ngày cuối cùng, cơ quan thi hành án cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong. Nếu người đó đang bị khởi tố hoặc đang có đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù thì giấy chứng nhận bị giữ lại cho đến khi giải quyết xong.
7. Khi nào bị buộc đi tù
Có hai nhóm căn cứ, và hậu quả của hai nhóm khác nhau.
Nhóm một: cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần trở lên. Khi đó người được hưởng án treo bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên. Hướng dẫn nêu rõ cách đếm với hành vi phổ biến nhất là bỏ đi khỏi nơi cư trú không xin phép: vi phạm lần thứ nhất là khi không có mặt theo giấy triệu tập sau lần nhắc nhở đầu tiên; vi phạm lần thứ hai là khi tiếp tục vắng mặt sau lần nhắc nhở thứ hai. Hai lần này cộng lại là đủ căn cứ.
Nhóm hai: phạm tội mới trong thời gian thử thách. Khi đó Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Đây là hậu quả nặng hơn nhóm một.
Vì việc buộc chấp hành hình phạt tù được đếm theo số lần vi phạm chứ không theo mức độ, nên lần nhắc nhở đầu tiên là tín hiệu phải xử lý ngay. Nhiều trường hợp bị buộc đi tù không phải vì hành vi nghiêm trọng, mà vì chủ quan sau lần nhắc nhở thứ nhất. Nếu đã nhận một lần nhắc nhở, nên làm việc với cơ quan giám sát để làm rõ nghĩa vụ và cách thực hiện, trước khi có lần thứ hai.
8. Án treo khác cải tạo không giam giữ ở đâu
Hai chế định này hay bị nhầm vì đều không phải vào trại, nhưng bản chất khác hẳn.
| Án treo | Cải tạo không giam giữ | |
|---|---|---|
| Bản chất | Không phải hình phạt. Là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện | Là một hình phạt chính, nhẹ hơn tù có thời hạn |
| Hình phạt đã tuyên | Là phạt tù, nhưng được miễn chấp hành nếu không vi phạm | Chính là cải tạo không giam giữ, không có án tù phía sau |
| Nếu vi phạm | Phải vào trại chấp hành đủ mức tù đã tuyên | Không chuyển thành tù giam vì lý do vi phạm nghĩa vụ |
| Thời hạn | Thời gian thử thách, bằng 2 lần mức tù, từ 1 đến 5 năm | Thời hạn của chính hình phạt, theo điều luật áp dụng |
| Khấu trừ thu nhập | Không | Có thể bị khấu trừ một phần thu nhập theo quy định |
Khác biệt quan trọng nhất nằm ở hàng thứ ba. Người được hưởng án treo luôn có một bản án tù treo lơ lửng phía sau; người bị cải tạo không giam giữ thì không. Vì vậy, xét về rủi ro, cải tạo không giam giữ nhẹ hơn án treo, dù trên thực tế nhiều người cho rằng ngược lại.
9. Chuẩn bị gì để được xem xét cho hưởng án treo
Án treo là quyền xem xét của Tòa án, không phải quyền đương nhiên của bị cáo. Nhưng phần lớn các điều kiện đều phải chứng minh bằng tài liệu, và tài liệu thiếu thì Tòa án không có căn cứ để áp dụng.
- Tài liệu về nhân thân: xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc chấp hành pháp luật và nghĩa vụ công dân; phiếu lý lịch tư pháp.
- Tài liệu về nơi cư trú hoặc nơi làm việc: giấy tờ chứng minh nơi cư trú rõ ràng, hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 năm trở lên, hoặc quyết định tuyển dụng, phân công công tác.
- Chứng từ bồi thường, khắc phục hậu quả: biên nhận, biên bản thỏa thuận, xác nhận của người bị hại. Đây là tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51, nên có giá trị trực tiếp với điều kiện thứ ba.
- Đơn xin giảm nhẹ của người bị hại nếu hai bên đã thỏa thuận được.
- Tài liệu về thành tích, hoàn cảnh: bằng khen, giấy khen, giấy tờ về thương binh, gia đình có công, hoàn cảnh nuôi con nhỏ, nuôi người thân mất khả năng lao động, tình trạng bệnh tật.
- Tài liệu về vai trò trong vụ án nếu là đồng phạm: chứng minh vai trò giúp sức không đáng kể, không khởi xướng, không chuẩn bị phương tiện.
Thời điểm nộp cũng quan trọng. Tài liệu nộp trong giai đoạn điều tra và truy tố có giá trị hơn tài liệu nộp sát ngày xét xử, vì nó được phản ánh trong kết luận điều tra và cáo trạng. Cách chuẩn bị hồ sơ và tham gia các bước tố tụng có trong phần luật sư hình sự và tranh tụng tại Tòa án.
10. Hai thay đổi mới về văn bản
Đây là phần mà nhiều bài viết trên mạng còn ghi theo quy định cũ.
Thứ nhất, từ ngày 01/7/2025: Tòa án nhân dân khu vực. Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 đã sửa Nghị quyết 02/2018, thay cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng “Tòa án nhân dân khu vực“. Thẩm quyền thành lập Hội đồng phiên họp xét buộc chấp hành hình phạt tù nay thuộc Chánh án Tòa án nhân dân khu vực hoặc Tòa án quân sự khu vực, với thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ. Nghị quyết này cũng thay Mẫu số 02-HS và Mẫu số 03-HS.
Quan trọng: Nghị quyết 02/2025 chỉ sửa phần thủ tục và tên cơ quan, không sửa điều kiện hưởng án treo. Năm điều kiện và sáu trường hợp loại trừ nêu ở trên vẫn giữ nguyên như Nghị quyết 02/2018 đã được sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022.
Thứ hai, từ ngày 01/7/2026: Luật Thi hành án hình sự mới. Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ 01/7/2026. Việc thi hành án treo nay quy định tại Điều 80, phiên họp xét tại Điều 86. Luật mới rút ngắn nhiều thời hạn của Tòa án khi xét các biện pháp khoan hồng và giảm Hội đồng phiên họp từ ba Thẩm phán xuống một Thẩm phán.
Ba dấu hiệu cho thấy nội dung đã lạc hậu: còn ghi “Tòa án nhân dân cấp huyện” khi nói về thẩm quyền; còn dẫn “Luật Thi hành án hình sự 2019” về nghĩa vụ của người hưởng án treo; chỉ dẫn Nghị quyết 02/2018 mà không nhắc Nghị quyết 01/2022 và Nghị quyết 02/2025. Riêng số hiệu điều luật trong Luật Thi hành án hình sự đã thay đổi, nên khi đối chiếu cần dùng Luật số 127/2025/QH15 chứ không dùng số hiệu điều của luật cũ.
Câu hỏi thường gặp
Án treo có phải đi tù không?
Không, nếu chấp hành đúng nghĩa vụ trong suốt thời gian thử thách. Nhưng án treo không xóa bản án tù: nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần trở lên, hoặc phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì phải vào trại chấp hành đủ mức tù đã tuyên. Trường hợp phạm tội mới còn bị tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Án treo có bị ghi vào lý lịch tư pháp không?
Có. Người được hưởng án treo vẫn là người bị kết án, vẫn có án tích và vẫn được ghi nhận trong lý lịch tư pháp. Án tích chỉ được xóa khi đủ điều kiện và thời hạn theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với cách hiểu thông thường rằng án treo là coi như không có tội.
Bị tuyên 3 năm 6 tháng tù có được hưởng án treo không?
Không. Điều kiện bắt buộc là mức phạt tù được tuyên không quá 3 năm. Trên mức đó thì không xét án treo, dù nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Trong trường hợp này, hướng cần tập trung là đề nghị Tòa án áp dụng mức án thấp hơn, để đưa mức tuyên về không quá 3 năm, rồi mới xét đến các điều kiện còn lại.
Có tiền án tiền sự có được hưởng án treo không?
Có thể, trong ba trường hợp. Một, đã được xóa án tích hoặc đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, mà tội mới là tội ít nghiêm trọng hoặc là đồng phạm vai trò không đáng kể. Hai, tình tiết về tiền án tiền sự đã được dùng làm tình tiết định tội trong chính vụ án này. Ba, vụ án bị tách giải quyết ở các giai đoạn khác nhau. Ngoài ba trường hợp đó, nếu thuộc tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm thì không được hưởng án treo.
Thời gian thử thách 5 năm có rút ngắn được không?
Có cơ chế rút ngắn thời gian thử thách, và việc rút ngắn phải bằng quyết định của Tòa án. Điều kiện và mức rút ngắn hiện được quy định trong pháp luật thi hành án hình sự, mà từ 01/7/2026 là Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15 — luật này rút ngắn nhiều thời hạn và giảm Hội đồng phiên họp từ ba Thẩm phán xuống một Thẩm phán. Vì số hiệu điều luật đã thay đổi so với luật cũ, cần đối chiếu trực tiếp văn bản hiện hành trước khi làm thủ tục.
Đang hưởng án treo có được đi làm xa, đi nước ngoài không?
Đi khỏi nơi cư trú phải xin phép cơ quan giám sát. Đây là nghĩa vụ bị vi phạm nhiều nhất trên thực tế và là căn cứ phổ biến nhất dẫn đến bị buộc chấp hành hình phạt tù. Trường hợp cần chuyển hẳn nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì phải thông báo để cơ quan thi hành án làm thủ tục chuyển hồ sơ, chứ không tự ý chuyển.
Hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 có đủ không?
Không đủ. Điều kiện yêu cầu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó ít nhất 1 tình tiết phải thuộc khoản 1 Điều 51. Tình tiết thuộc khoản 2 vẫn được tính vào tổng số nhưng không thay thế được yêu cầu này. Đây là lỗi thường gặp khi chuẩn bị hồ sơ: đủ số lượng nhưng không đúng loại.
Bỏ trốn rồi ra đầu thú có còn được hưởng án treo không?
Còn, nếu ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau mốc thời điểm đó thì thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Tuy nhiên hướng dẫn yêu cầu Tòa án xem xét đặc biệt thận trọng với trường hợp này, nên đáp ứng được mốc thời gian không có nghĩa là đương nhiên được chấp nhận.
Người dưới 18 tuổi có được hưởng án treo dễ hơn không?
Người dưới 18 tuổi được hưởng ngoại lệ ở hai trường hợp loại trừ: bị xét xử cùng một lần về nhiều tội, và phạm tội từ 2 lần trở lên. Nghĩa là hai tình huống vốn loại trừ án treo thì không loại trừ với người dưới 18 tuổi. Ngoài ra còn được áp dụng chính sách xử lý riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nhưng năm điều kiện cơ bản vẫn phải đáp ứng đủ.
Cần chuẩn bị hồ sơ xin hưởng án treo
Gửi trước kết luận điều tra hoặc cáo trạng, tôi xem và trao đổi ban đầu qua điện thoại hoặc Zalo, không tính phí. Tài liệu nộp trong giai đoạn điều tra và truy tố có giá trị hơn tài liệu nộp sát ngày xét xử, nên liên hệ càng sớm càng tốt.

Luật sư Bùi Khắc Long – Thẻ luật sư số 15188/LS, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Luật TNHH Duy Minh. Hơn 15 năm hành nghề trong lĩnh vực dân sự, hình sự, doanh nghiệp và tố tụng. Biên soạn và cập nhật ngày 02/11/2026.
Nội dung mang tính tham khảo, cập nhật đến ngày 02/11/2026. Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15 mới có hiệu lực từ 01/7/2026, một số số hiệu điều luật đã thay đổi so với luật cũ nên cần đối chiếu văn bản hiện hành khi làm thủ tục. Ví dụ bằng số chỉ nhằm minh họa cách tính. Mỗi vụ việc có hồ sơ và nhân thân riêng; với vụ việc cụ thể cần đối chiếu hồ sơ trước khi quyết định.





