“Anh ấy bỏ mặc cha mẹ nhiều năm, giờ có được chia nhà không?”, “Người làm giả di chúc có được hưởng không?” là những câu tôi nghe thường xuyên trong các vụ tranh chấp thừa kế. Bộ luật Dân sự chỉ cho tước quyền hưởng di sản trong bốn nhóm trường hợp cụ thể, và mỗi nhóm có cách chứng minh khác nhau. Bài này giải thích từng trường hợp, ngoại lệ và cách yêu cầu Tòa án xác định. Tôi là Luật sư Bùi Khắc Long, Công ty Luật TNHH Duy Minh, TP.HCM.
Tóm tắt nhanh
- Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự liệt kê bốn nhóm người không được quyền hưởng di sản.
- Ba nhóm cần có bản án hoặc chứng cứ rõ ràng về hành vi; nhóm “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng” không cần bản án hình sự nhưng khó chứng minh nhất.
- Ngoại lệ: người để lại di sản đã biết hành vi mà vẫn cho hưởng theo di chúc thì người đó vẫn được hưởng (khoản 2 Điều 621).
- Không có quyền hưởng khác với bị truất quyền trong di chúc và khác với từ chối nhận di sản.
1. Bốn nhóm không được quyền hưởng di sản
| Trường hợp (khoản 1 Điều 621) | Điều kiện | Cách chứng minh |
|---|---|---|
| a) Xâm phạm người để lại di sản | Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản | Bản án hình sự đã có hiệu lực |
| b) Vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng | Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản | Không cần bản án hình sự; Tòa án đánh giá chứng cứ trong vụ chia di sản |
| c) Xâm phạm người thừa kế khác | Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng phần di sản của người đó | Bản án hình sự đã có hiệu lực |
| d) Can thiệp vào di chúc | Lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí người để lại di sản | Chứng cứ về hành vi: giám định chữ ký, chữ viết, lời khai người làm chứng |
Trường hợp b là trường hợp gia đình hay viện dẫn nhất nhưng khó thắng nhất. “Không thăm nom”, “ít gửi tiền” chưa chắc đã là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; cần chứng minh người để lại di sản cần được nuôi dưỡng, người kia có điều kiện mà bỏ mặc, và hậu quả thực tế.
2. Ngoại lệ: người để lại di sản đã biết mà vẫn cho hưởng
Những người thuộc bốn nhóm trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc (khoản 2 Điều 621). Ví dụ người cha biết con từng hành hạ mình nhưng vẫn lập di chúc để lại nhà cho con: ý chí trong di chúc được tôn trọng.
3. Phân biệt với các trường hợp dễ nhầm
| Trường hợp | Bản chất | Hệ quả |
|---|---|---|
| Không có quyền hưởng (Điều 621) | Do pháp luật tước vì hành vi của người thừa kế | Không được hưởng, kể cả phần bắt buộc theo Điều 644 (khoản 2 Điều 644) |
| Bị truất quyền hưởng di sản | Người lập di chúc không cho hưởng | Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động vẫn được hưởng hai phần ba suất theo pháp luật (khoản 1 Điều 644) |
| Từ chối nhận di sản (Điều 620) | Người thừa kế tự từ chối, lập thành văn bản trước khi chia | Không hưởng; xem văn bản từ chối nhận di sản |
| Ở hàng thừa kế sau | Hàng sau chỉ hưởng khi không còn ai ở hàng trước | Khoản 3 Điều 651; xem hàng thừa kế thứ nhất |
4. Phần di sản đó chia cho ai
Nếu người không có quyền hưởng được nêu trong di chúc, phần di sản liên quan đến người đó được chia theo pháp luật (điểm c khoản 2 Điều 650). Nếu thừa kế theo pháp luật, phần di sản chia đều cho những người còn lại cùng hàng (khoản 2 Điều 651). Thừa kế thế vị chỉ đặt ra khi cha hoặc mẹ của cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản (Điều 652), nên con của người không có quyền hưởng không mặc nhiên được hưởng thay; xem thừa kế thế vị là gì.
5. Yêu cầu Tòa án xác định thế nào
Việc một người có bị tước quyền hưởng di sản hay không thường được giải quyết ngay trong vụ án chia di sản: bên yêu cầu đưa ra bản án, chứng cứ, và Tòa án quyết định khi xác định những người được hưởng. Thời hiệu để yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 623). Khi các bên không thống nhất, công chứng viên không thể tự loại một người thừa kế; xem chia tài sản thừa kế có người không đồng ý và trang luật sư thừa kế, nhà đất tại TP.HCM.
Câu hỏi thường gặp
Con không chăm sóc cha mẹ có bị mất quyền thừa kế không?
Không mặc nhiên. Chỉ khi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng và được Tòa án xác định (điểm b khoản 1 Điều 621), hoặc khi cha mẹ lập di chúc không cho hưởng. Ngay cả khi bị truất quyền trong di chúc, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động vẫn được hưởng hai phần ba suất theo pháp luật (Điều 644).
Người giả mạo di chúc có được hưởng di sản không?
Không, nếu việc giả mạo nhằm hưởng di sản trái với ý chí của người để lại di sản (điểm d khoản 1 Điều 621). Chữ ký, chữ viết trên di chúc có thể được giám định để chứng minh.
Bị truất quyền trong di chúc thì có được gì không?
Có thể. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật (khoản 1 Điều 644), trừ khi họ từ chối nhận hoặc thuộc trường hợp không có quyền hưởng theo khoản 1 Điều 621.
Thời hạn yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác là bao lâu?
10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 623 Bộ luật Dân sự).
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của Quốc hội: Điều 620, Điều 621, Điều 623, Điều 644, Điều 650, Điều 651, Điều 652.
Gia đình đang tranh chấp về người được hưởng di sản?
Gửi tôi sơ đồ người thừa kế và các giấy tờ, chứng cứ đang có. Tôi đánh giá khả năng chứng minh và hướng xử lý, báo phí trước.

Luật sư Bùi Khắc Long – Thẻ luật sư số 15188/LS, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Luật TNHH Duy Minh. Hơn 15 năm hành nghề, trong đó có đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình và tố tụng. Biên soạn và cập nhật ngày 08/11/2026.
Nội dung mang tính tham khảo, cập nhật đến ngày 08/11/2026. Văn bản pháp luật và tên đơn vị hành chính có thể thay đổi; vụ việc cụ thể cần đối chiếu hồ sơ.






